Hiển thị các bài đăng có nhãn ngan hang. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ngan hang. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 10 tháng 8, 2012

Habubank sẽ tồn tại và phát triển - TienPhong Bank được tăng trưởng tín dụng tối đa 27%


Mặc dù đã gặp không ít sóng gió, nhưng sau khi sát nhập mọi khó khăn của habubank sẽ được giải quyết.
sáp nhập với ngân hàng khác được cho là tốt hơn. Trước đó, ngay khi công khai các tài liệu về phương án và đề án sáp nhập với SHB, HĐQT của ngân hàng Habubank khẳng định đây là một quyết định được cân nhắc một cách cẩn trọng trên cơ sở đảm bảo tối đa quyền lợi cho các cổ đông, cán bộ nhân viên trong điều kiện hiện nay của ngân hàng. Việc sáp nhập HBB vào SHB là việc chuyển toàn bộ trách nhiệm và nghĩa vụ của HBB với các khách hàng, đối tác, nhân viên cho SHB kể từ ngày nhận sáp nhập. Quá trình này, được sự kiểm soát và hỗ trợ chặt chẽ của NHNN các cấp để đảm bảo quá trình diễn ra thành công, không ảnh hưởng tới quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền, khách hàng và các bên liên quan. 

Song, tại sao lại chọn SHB và năng lực tài chính của nhà băng này đến đâu lại là câu hỏi được nhiều cổ đông của Habubank đặt ra. Có ý kiến cho rằng, SHB phải là một nhà băng có tài chính thực sự khỏe mới có thể gánh vác được ngân hàng Habubank cũng như đảm bảo sức khỏe, hiệu quả của ngân hàng sau sáp nhập. Việc sáp nhập theo đó cũng không thể tiến hành vội vàng, ảnh hưởng đến quyền lợi của các cổ đông. Bên cạnh dấu hỏi về năng lực tài chính của SHB, có ý kiến còn cho rằng, nếu được chọn, tại sao Habubank không chọn những định chế tài chính có năng lực hơn SHB... Thực tế thì ngay trong dự thảo đề án sáp nhập với SHB, HĐQT của ngân hàng Habubank cũng nhận thấy không ít các điểm yếu của đối tác sáp nhập. Phân tích về SHB, Habubank nhìn thấy một nhà băng có quy mô hoạt động chưa lớn, chưa có bề dày hoạt động và cơ cấu quản trị doanh nghiệp cũng chưa bắt kịp với tốc độ phát triển của ngân hàng. Bên cạnh đó, cơ cấu bảng cân đối kế toán của SHB vẫn tập trung nhiều vào hoạt động tín dụng và chi phí hoạt động cao so với tổng nguồn thu của ngân hàng.
Dù có nhiều thắc mắc của cổ đông, ĐHCĐ của Habubank cũng đi đến phần biểu quyết và kết quả cuối cùng cho thấy, có đến 85,21% trên tổng số phiếu biểu quyết đồng ý thông qua phương án sáp nhập ngân hàng Habubank vào SHB kèm theo đề án sáp nhập, hợp đồng sáp nhập và điều lệ ngân hàng sau sáp nhập. Như vậy về mặt thủ tục, thương vụ sáp nhập hai ngân hàng cơ bản hoàn tất nửa chặng đường đầu tiên, về phía Habubank. Phía bên kia - SHB, chặng đường còn lại phụ thuộc vào kết quả tại ĐHCĐ sẽ được tổ chức vào ngày 5.5 tới đây. Có thông tin cho rằng, nửa còn lại dường như sẽ dễ dàng hơn.
Trên cơ sở đánh giá hoạt động 6 tháng đầu năm 2012 của Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TienPhong Bank), Ngân hàng Nhà nước đã có công văn số 4879/NHNN-CSTT ngày 6/8/2012 chấp thuận đề nghị điều chỉnh tốc độ tăng tín dụng của TienPhong Bank.

Theo đó, dư nợ tín dụng (bao gồm cả số dư trái phiếu doanh nghiệp) đến hết ngày 31/12/2012 của TienPhong Bank sẽ được tăng tối đa 27% so với thời điểm cuối năm 2011.

Quý I/2012, tăng trưởng tín dụng của TienPhong Bank tăng chậm do ngân hàng tập trung nỗ lực tái cơ cấu. Tuy nhiên Quý II/2012, dư nợ cho vay của TienPhong Bank đã tăng 6,8% so với quý trước. Sáu tháng cuối năm, TienPhong Bank sẽ đẩy mạnh hoạt động cho vay để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn dễ dàng nhất.

Hiện TienPhong Bank đang triển khai gói tín dụng mang tên “90 ngày vàng dành cho khách hàng doanh nghiệp” với mức lãi suất ưu đãi dao động từ 12,5% - 14%. Tổng giá trị gói tín dụng là 3000 tỷ đồng. Các điều kiện cho vay được mở rộng và quy định rõ ràng.

Từ 15/8/2012 TienPhong Bank sẽ dành thêm 1000 tỷ đồng cấp tín dụng cho khách hàng khu vực đồng bằng sông Cửu Long trong chương trình mang tên “Hỗ trợ tín dụng trọn gói cho cá nhân, hộ gia đình sản xuất lúa”. Khách hàng được tài trợ chi phí lưu động để sản xuất lúa (mua phân bón, thuốc trừ sâu, thuê nhân công,...), chi phí sinh hoạt trong thời gian sản xuất lúa, chi phí mua đất nông nghiệp và đầu tư máy móc, thiết bị. Chi nhánh An Giang và Cần Thơ của TienPhong Bank sẽ là đầu mối giải ngân gói tín dụng này.

TienPhong Bank cũng đẩy mạnh cho vay khách hàng cá nhân, khách hàng vay tín chấp thấu chi được giảm tối đa 2% lãi suất so với mức thông thường.

Thứ Hai, 6 tháng 8, 2012

BIDV lãi 1.200 tỷ đồng trong 2 tháng 5 và 6

Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) công bố báo cáo tài chính quý II/2012, giai đoạn từ 1/5 đến 30/6 của ngân hàng mẹ, theo đó tăng trưởng tín dụng 6 tháng đầu năm của ngân hàng đạt 10,75%.

Bài liên quan : <<  Ngân hàng habubank vượt qua khó khăn  >>
                         <<  Ngân hàng habubank phát triển mạnh  >>
BIDV được thành lập vào ngày 27/4 nhưng ngân hàng lập báo cáo tài chính đầu tiên vào ngày 1/5. Nguyên nhân là do khoảng thời gian từ 27/4 đến 30/4 có 3 ngày nghỉ và 1 ngày làm việc và ngày làm việc này không có ảnh hưởng trọng yếu đến tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

Do đó, để tiện cho hoạt động kinh doanh, BIDV thực hiện chuyển đổi hình thức sở hữu vào ngày 30/4 và chính thức hoạt động vào ngày 1/5 nên lập báo cáo tài chính đầu tiên từ ngày 1/5.
BIDV lai 1200 ty dong 1

Theo đó, từ 1/5 đến 30/6, BIDV đạt 2.667 tỷ đồng thu nhập lãi thuần, chiếm 80% tổng các khoản thu nhập.
Trừ đi 952 tỷ đồng chi phí hoạt động và 912 tỷ đồng chi phí dự phòng rủi ro tín dụng, BIDV đạt 1.586 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế. Ngân hàng đạt lợi nhuận sau thuế 1.196 tỷ đồng.
BIDV lai 1200 ty dong 2Để phục vụ cho mục đích so sánh và thể hiện hoạt động kinh doanh liên tục, BIDV có bổ sung bảng kết quả hoạt động kinh doanh 6 tháng đầu năm 2012. Theo đó, lợi nhuận sau thuế 6 tháng đầu năm đạt 1.581 tỷ đồng, tăng 34% so với cùng kỳ. Như vậy, lợi nhuận riêng tháng 5 và tháng 6 của BIDV chiếm 76% lợi nhuận nửa đầu năm 2011.

Tại thời điểm 30/6, nợ xấu ngân hàng mẹ BIDV là 2,5%. Khoản cho vay khách hàng là 323.117 tỷ đồng. Theo báo cáo bổ sung, tăng trưởng tín dụng 6 tháng đầu năm của ngân hàng là 10,75%.

Thứ Tư, 1 tháng 8, 2012

Lãi biên 2,9% của ngân hàng có thấp?

 
Ngân hàng không thể có lãi 6% do chênh lệch huy động/cho vay như nhiều người nghĩ, nhưng với tỷ lệ 2,9% như tính toán cũng không phải là mức thu nhập lãi thuần thấp trong điều kiện hiện nay.

                         <<  Ngân hàng habubank phát triển mạnh  >>

Ngân hàng là huyết mạch của cả nền kinh tế. Ngân hàng tắc, kinh tế đình trệ. Đó là tình trạng của nền kinh tế hiện nay khi mà vốn của ngân hàng không thể chảy tới các ngành khác. Một trong những khó khăn chính là lãi suất vay vốn vẫn còn rất cao đối với sức chịu đựng của doanh nghiệp.

Cũng có ý kiến cho rằng, theo tính toán thì các ngân hàng không lãi nhiều như mọi người vẫn tưởng là 6%/ đồng vốn huy động (chênh lệch huy động 9% và cho vay 15%), mà chỉ khoảng 2,9%/đồng vốn huy động.

Theo so sánh thì đó là tỷ suất sinh lời thấp nếu so với ngành khác nhưng dường như lời giải thích này hơi thiếu thuyết phục.

Cần làm rõ lợi nhuận mà ngân hàng thu về trên mỗi đồng vốn huy động và lợi nhuận sẽ được chia cho cổ đông của ngân hàng.

Hãy lấy ví dụ, ngân hàng A có vốn điều lệ 10 ngàn tỷ đồng với lượng vốn huy động về là 100.000 tỷ đồng và có LDR (tỷ lệ cho vay/huy động) là 70% tương đương 70.000 tỷ đồng.

Với lợi nhuận tính toán chỉ 2,9% trên dư nợ cho vay ngân hàng A cũng có khoản lợi nhuận từ thu nhập lãi thuần xấp xỉ 2.000 tỷ đồng.

Nếu ngân hàng không có khoản doanh thu và chi phí nào khác, sau khi trích lập dự phòng và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp tạm tính là 1.000 tỷ.

Rõ ràng ngân hàng vẫn có khoản lợi nhuận lên tới 1.000 tỷ đồng sau thuế , tỷ lệ chia cổ tức có thể là 9 -10%.

Kinh tế khó khăn, doanh nghiệp thua lỗ, phá sản thì ngân hàng với chức năng là trung gian tài chính nếu kinh doanh an toàn, hiệu quả vẫn cho khoản lợi nhuận 10%.

So sánh với việc gửi tiết kiệm ngắn hạn 9%/năm thì những ông chủ ngân hàng có thể có khoản lợi nhuận đầu tư không thấp.

Con số lợi nhuận trên chỉ tính với tỷ lệ cho vay/huy động là 70%; nhưng trong hệ thống NHTM cũng có không ít ngân hàng cho vay vượt tỷ lệ trên.

Vì thế nói tỷ suất lợi nhuận/đồng vốn huy động của ngân hàng ở điều kiện kinh tế khó khăn chỉ 2,9% là thấp thì không biết khi kinh tế bình thường lợi nhuận ngân hàng sẽ ở mức nào.

Cách tính ở trên mới chỉ là ước tính nhanh nhưng cũng phần nào phản ánh được thu nhập thực của các ngân hàng.

Vẫn biết ngân hàng là doanh nghiệp, kinh doanh thì phải có lãi, đảm bảo an toàn cho người gửi tiền nhưng nếu các ông chủ ngân hàng chấp nhận giảm bớt lợi nhuận trước mắt, chỉ 1% thôi, thì có lẽ sẽ giúp nhiều doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận vốn.

Thậm chí nếu họ chấp nhận hạ tiếp lợi nhuận để trích lập dự phỏng rủi ro tín dụng đầy đủ thì chắc chắn các doanh nghiệp tốt, doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả còn có thể tiếp cận lãi suất thấp hơn.

Còn các doanh nghiệp cũng phải nhìn lại chính bản thân mình vì hầu hết doanh nghiệp Việt Nam đều kinh doanh với tỷ lệ đòn bẩy rất cao. Từ DNNN có tiềm lực, tài sản nhiều đến doanh nghiệp tư nhân, thậm chí doanh nghiệp bắt đầu khởi nghiệp.

Tại báo cáo của bộ Tài chính, tính đến tháng 9.2011, có đến 30/85 (tức 35%) tập đoàn và tổng công ty có tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu cao hơn 3 lần. Đặc biệt có 7 tập đoàn, tổng công ty có tỷ lệ này trên 10 lần.

Còn tại buổi đối thoại giữa ngân hàng và doanh nghiệp, Thống đốc Nguyễn Văn Bình chia sẻ nhận bức thư của doanh nghiệp trẻ, khởi nghiệp với vài chục triệu đồng đã thông qua nhiều cách để vay 3 tỷ đồng nhưng kinh doanh thua lỗ.

“Hiện anh ấy muốn vay thêm 3 tỷ nữa để kinh doanh, nhưng nếu tôi là giám đốc chi nhánh Ngân hàng cũng không dám cho anh này vay thêm bởi quy mô nhỏ, vốn tự có thấp, kế hoạch kinh doanh không rõ ràng ”- Thống đốc thẳng thắn đánh giá.

Phụ thuộc quá nhiều vào tín dụng ngân hàng, đòn bẩy tài chính cao khi thị trường khó khăn nhiều doanh nghiệp rơi vào tình trạng “chết trên đống tài sản dở dang”.

“Tiên trách kỷ, hậu trách nhân”, các doanh nghiệp muốn có sự hỗ trợ từ phía ngân hàng thì trước hết phải giải quyết bớt những bất cập, rào cản do chính doanh nghiệp tạo ra.

Mối quan hệ giữa ngân hàng và doanh nghiệp là lâu dài, và biết bỏ cái ngắn hạn để được lấy cái lâu dài chắc chắn cả ngân hàng và doanh nghiệp sẽ tăng trưởng bền vững.

Thứ Tư, 25 tháng 7, 2012

"Thế chấp quyền sử dụng đất tại các ngân hàng ở nước ngoài": Phải tuyệt đối đảm bảo chủ quyền quốc gia

Phó thống đốc NHNN Đặng Thanh Bình cho rằng, vấn đề này cần phải xem xét nghiên cứu một cách thận trọng. Nếu có chủ trương "mở" thì những điều kiện ràng buộc phải rất chặt chẽ.
Nhu cầu có thực…


                         <<  Ngân hàng Habubank tự tin xóa nợ  >>
 

Luật Đất đai 2003 không cho phép thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại ngân hàng ở nước ngoài để đảm bảo chủ quyền quốc gia.

Tuy nhiên, cùng với tiến trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của nền kinh tế, nhiều ý kiến cho rằng, cần “mở cửa” đối với vấn đề sử dụng đất làm tài sản thế chấp tại ngân hàng ở nước ngoài. Chính vì vậy, ngày 24/7/2012, NHNN Việt Nam đã tổ chức Hội thảo: "Thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại ngân hàng ở nước ngoài" với sự tham gia của các chuyên gia nghiên cứu trong lĩnh vực đất đai, ngân hàng... Qua đó, đưa ra những kiến nghị, đề xuất để làm sao vừa tháo gỡ khó khăn cho DN nhưng vẫn đảm bảo thuận lợi cho việc quản lý đất đai của Nhà nước.
Xoay quanh vấn đề này, rất nhiều ý kiến cho rằng, nên “mở” nhưng phải ràng buộc các điều kiện cực kỳ chặt chẽ. Bởi theo ông Nguyễn Đình Quang - Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Ngân hàng, hiện nền kinh tế còn thiếu vốn, cần có vốn cho phát triển, vì vậy cần tạo điều kiện cho DN có dự án khả thi, có hiệu quả, có khả năng trả nợ được thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để vay vốn tại ngân hàng ở nước ngoài... Tuy nhiên, phải tuân thủ những điều kiện hết sức cụ thể và nghiêm ngặt chứ không phải dự án nào cũng cho vay. “Việc thống nhất chủ trương về mặt hướng đi cho các DN khi thực hiện sẽ đảm bảo các giao dịch thông suốt, rõ ràng minh bạch”, ông Quang nhấn mạnh.
Đồng tình quan điểm này, bà Trần Thị Hồng Hạnh – Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cũng cho biết, hiện nhu cầu vốn của các DN Việt Nam hoạt động ở nước ngoài khá lớn nhưng tài sản đảm bảo ở nước ngoài rất ít. Do đó, đối tượng này muốn dùng tài sản ở Việt Nam để đảm bảo cho khoản vay ở nước ngoài.
Theo bà Hạnh đây cũng là nhu cầu thực tế của nền kinh tế khi mở cửa, giao lưu thương mại với thế giới. Vấn đề là phải làm sao làm sao để vừa đáp ứng nhu cầu thực tế trên song vẫn đảm bảo chủ quyền đất nước về đất đai. Muốn vậy cần có giải pháp linh hoạt. Ví như người ở Việt Nam có thể thông qua bảo lãnh đối ứng tức là người có đất đai yêu cầu ngân hàng bảo lãnh cho người vay ở nước ngoài. Làm như vậy vừa xử lý đất đai ở trong nước nhưng đồng thời đáp ứng được nhu cầu vốn cho các DN nước ngoài.
…Song cần thận trọng
Theo ông Đào Xuân Tuấn - Phó vụ trưởng Vụ Quản lý ngoại hối, NHNN: “Là nơi xét duyệt đăng ký khoản vay của DN Việt Nam vay nợ ở ngân hàng nước ngoài, chúng tôi nhận thấy, đây là vấn đề vừa cấp bách nhưng cũng vừa nguy hiểm.

Hiện nhiều ngân hàng ở nước ngoài chỉ cho vay nếu DN có tài sản thế chấp là đất đai. Thế nhưng Luật Đất đai lại không cho phép DN thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền tại ngân hàng ở nước ngoài. Thực tế này cũng sẽ hạn chế luồng vốn cho DN Việt Nam làm ăn chân chính, có điều kiện trả nợ. Bởi ngoài đất đai, DN Việt Nam không có tài sản giá trị nào tin cậy hơn để ngân hàng nước ngoài chấp nhận cho vay.

Tuy nhiên, ở góc độ khác chúng ta nhận thấy thực tế là hoạt động này cũng khá rủi ro. Bởi khi DN không hoạt động hiệu quả, việc thế chấp tài sản như vậy sẽ gây khó cho vấn đề quản lý đất đai. Do vậy, nếu "mở" cũng phải hết sức thận trọng. Chỉ nên thí điểm những dự án đặc biệt quan trọng đối với một số lĩnh vực nào rất cụ thể…”.
Cũng với hướng như vậy song có phần “mở” hơn, ông Phạm Quang Tùng - Phó tổng giám đốc BIDV đề xuất, chỉ nên cấm thế chấp với những tài sản đất nhạy cảm. Còn trong trường hợp người vay không thanh toán được cũng có cách xử lý. Đó là, ủy thác qua TCTD trong nước đứng ra xử lý hoặc cho phép tổ chức nước ngoài thực hiện phát mãi tài sản để thu hồi vốn song chỉ giới hạn đối với đối tượng nhận chuyển nhượng tài sản và quyền sử dụng đất là những đối tượng được phép theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Thừa nhận nhu cầu thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền tại ngân hàng ở nước ngoài phát sinh trong thời gian gần đây và nhu cầu thực tế, nhưng Phó thống đốc NHNN Đặng Thanh Bình cho rằng, vấn đề này cần phải xem xét nghiên cứu một cách thận trọng. Nếu có chủ trương "mở" thì những điều kiện ràng buộc phải rất chặt chẽ.
Phó vụ trưởng Vụ chính sách tiền tệ (NHNN) Đỗ Thị Nhung:
Cần nghiên cứu kỹ lưỡng
Trên thực tế, nhu cầu thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền tại ngân hàng ở nước ngoài có phát sinh. Tuy nhiên theo tôi đây không phải vấn đề bức xúc cần giải quyết một cách quyết liệt. Vì pháp luật chưa cho phép thực hiện điều này và trong thực tế việc vay vốn nước ngoài chia ra làm 2 cấu phần: công và tư nhân đều có những hình thức xử lý khác.


Với khu vực công đã được Chính phủ bảo lãnh, còn khu vực tư nhân cũng được ngân hàng bảo lãnh vay vốn. Còn nếu như DN không đủ điều kiện bảo lãnh thì đương nhiên việc vay vốn của DN cả trong nước lẫn nước ngoài đều khó chứ không riêng vướng mắc tài sản. 


Còn dưới góc độ nhà quản lý, vấn đề này khá nhạy cảm liên quan chủ quyền quốc gia. Vì đây là giao dịch có yếu tố nước ngoài nên việc xử lý cần cân nhắc nghiên cứu kỹ cả luật pháp nước ngoài và vấn đề quan hệ yếu tố nước ngoài với Việt Nam. Hơn thế, việc mở cơ chế này có thể sẽ làm tăng nợ quốc gia, cũng như gây khó khăn cho việc quản lý.

 

Thứ Sáu, 13 tháng 7, 2012

Đại biểu TPHCM truy vấn ngân hàng

Doanh nghiệp khó tiếp cận vốn giá rẻ là chủ đề mà các đại biểu đặt ra cho Ngân hàng Nhà nước chi nhánh TPHCM trong phiên chất vấn của Hội đồng nhân dân thành phố chiều 12/7.

                         <<  Ngân hàng Habubank tự tin xóa nợ  >>
 

Chiều 12/7, mở đầu phiên chất vấn Ngân hàng Nhà nước chi nhánh TP HCM  và Sở Công thương về nội dung trọng tâm là các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh tại kỳ họp thứ 5 HĐND TP HCM, hàng loạt ý kiến của đại biểu xoay quanh doanh nghiệp khó tiếp cận vốn lãi suất cho vay thấp. "Tại sao trong thời gian qua lãi suất huy động và cho vay liên tục giảm nhưng doanh nghiệp vẫn khó tiếp cận vốn?", đại biểu Nguyễn Thị Bích Thủy đặt vấn đề.

Thái độ gay gắt hơn, đại biểu Võ Văn Sen đề nghị, Ngân hàng Nhà nước giải trình rõ những mặt yếu kém của cơ quan này. "Ngân hàng Nhà nước có thể làm tròn được sứ mệnh của mình trong những tháng từ nay đến cuối năm hay không và có những giải pháp như thế nào để cứu doanh nghiệp", ông Sen nói..

Trả lời câu hỏi của đại biểu Thủy, ông Nguyễn Hoàng Minh - Phó giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh TP HCM xin nhận khuyết điểm bởi vì các ngân hàng thương mại cổ phần đã chậm trễ trong việc triển khai những biện pháp mà Ngân hàng Nhà nước đưa ra.

Theo ông, trong thời gian qua Ngân hàng Nhà nước đã đưa ra các biện pháp như cơ cấu lại nợ doanh nghiệp, miễn giảm lãi suất cho vay đối với các khoản nợ cũ, mở rộng đối tượng cho vay (đối tượng cho vay bằng ngoại tệ, sản xuất hàng xuất khẩu)... Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước đã yêu cầu các ngân hàng thương mại ngồi lại với doanh nghiệp để cơ cấu lại nợ, định lại kỳ hạn nợ nhằm giảm giá thành sản phẩm cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, một số ngân hàng đã chậm triển khai những biện pháp này.

Đối với việc miễn giảm lãi suất cho vay cũ trước đây, ông Minh cho biết đang được các ngân hàng thực hiện theo yêu cầu của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và đến 15/7 ngân hàng phải giảm khoản vay cũ xuống còn 15%. "Sau ngày này, nếu các đại biểu thấy những ngân hàng nào lãi suất cao hơn 15% thì hãy báo cho tôi, tôi sẽ xử lý", ông Minh khẳng định.

Ông Minh cũng cho biết thêm, các ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố đã có kế hoạch triển khai giảm lãi suất các khoản vay cũ ngay trong tuần này, thậm chí có một số ngân hàng miễn giảm lãi suất 100% cho các doanh nghiệp gặp khó khăn cụ thể.

Vị phó giám đốc Ngân hàng Nhà nước khẳng định, một trong những nguyên nhân chính dẫn đến doanh nghiệp khó tiếp cận vốn là do "điều kiện cho vay không thể nới lỏng được". Theo ông, nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ không đủ tài sản thế chấp để đảm bảo khoản vay hoặc nếu có thì tài sản thế chấp lại có tính thanh khoản thấp.

Để giải quyết vấn đề này, ông Minh đề nghị một số ngân hàng thương mại linh hoạt giải ngân bằng cách cho doanh nghiệp vay tín chấp dựa vào xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp hoặc chấp nhận thế chấp bằng dòng tiền (các nguồn thu, khoản thu từ bán hàng của doanh nghiệp) thay vì thế chấp bằng tài sản.

Trước câu hỏi của đại biểu Sen, ông Minh khẳng định, ngân hàng có rất nhiều rủi ro từ cơ chế chính sách, khủng hoảng kinh tế thế giới... Trong bản thân ngân hàng, rủi ro tập trung ở lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, thanh toán...

6 giải pháp chính được ông đưa ra để làm lành mạnh hệ thống ngân hàng mới làm tròn "sứ mệnh" như thanh tra, kiểm tra những hoạt động của các ngân hàng, thành lập Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng trong ngân hàng, cơ cấu lại hệ thống mạng lưới ngân hàng thương mại, kiểm điểm cán bộ tiêu cực...

Chưa hài lòng với câu trả lời, đại biểu Huỳnh Công Hùng chất vấn: "Những nguyên nhân doanh nghiệp khó tiếp cận vốn đã rõ, đề nghị Phó giám đốc Ngân hàng Nhà nước cho biết rõ hơn về những giải pháp cứu doanh nghiệp". Nhiều đại biểu khác cũng đề nghị cho biết, thành phố cần phải làm gì để vực dậy sản xuất, kinh doanh cho doanh nghiệp.

Phó chủ tịch UBND thành phố Nguyễn Thị Hồng cho biết, để giải quyết khó khăn cho doanh nghiệp cần phối hợp được 3 yếu tố gồm vai trò của nhà nước, vai trò của doanh nghiệp và vai trò của hiệp hội doanh nghiệp. "Ba vai trò này mà phối hợp chặt chẽ, đồng bộ với nhau sẽ có tác động tích cực giúp doanh nghiệp tiếp cận được vốn, vực dậy sản xuất, kinh doanh", bà Hồng nói.

Vị phó chủ tịch thành phố cho biết, trong thời gian qua, lãnh đạo thành phố cùng với Ngân hàng Nhà nước đã có nhiều cuộc họp và trao đổi để thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, trong đó tập trung đến miễn, giảm và giãn thuế cho doanh nghiệp. Cụ thể, thành phố đã miễn, giảm và giãn thuế số tiền 4.669 tỷ đồng.

Bà Hồng cũng đã đề nghị Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có hướng dẫn cụ thể hơn những văn bản chỉ đạo của Chính phủ đối với lĩnh vực ngân hàng như việc cơ cấu nợ, gia hạn nợ... và đã được đồng ý. "Cuối tháng 7 này, Thống đốc sẽ vào TP HCM để làm rõ những vấn đề này", bà Hồng khẳng định.

Tuy nhiên, bà Hồng cho rằng, không ai khác để ổn định phát triển sản xuất, kinh doanh hơn là bản thân các doanh nghiệp. "Vì nếu chúng ta đầu tư dàn trải, không có định hướng, không đầy đủ thông tin, không phát hiện được định hướng cơ cấu lại doanh nghiệp thì khó mà vượt qua được khó khăn", bà Hồng nói.

Theo bà, Hiệp hội doanh nghiệp chính là cầu nối giữa nhà nước với doanh nghiệp, có nhiệm vụ định hướng thông tin và kết nối các doanh nghiệp lại với nhau.

Ngoài ra, bà Hồng cũng đưa ra một giải pháp cứu doanh nghiệp hiện nay là tổ chức hội nghị kết nối giữa các ngân hàng thương mại với doanh nghiệp. Qua hội nghị này, các ngân hàng thương mại sẽ tự giới thiệu về mình, giới thiệu về điều kiện cho vay, lãi suất cho vay, cơ cấu lại nợ... "Chắc chắn doanh nghiệp sẽ tìm được nguồn vốn để sản xuất, kinh doanh", bà nói.