Hiển thị các bài đăng có nhãn habubank. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn habubank. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 10 tháng 5, 2014

Ngân Hàng Habubank Hội Nhập Kinh Tế

Ngân Hàng Habubank


Hội nhập WTO- hướng đi đúng đắn cho sự phát triển kinh tế và xã hội ở Việt Nam. Với tư cách là một thành viên của WTO, Việt Nam đang đối mặt với những cơ hội và thách thức vô cùng to lớn. Các công ty, các tập đoàn lớn ở Việt Nam được hòa nhập vào thị trường thế giới, nơi chỉ dành cho những doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh lớn mạnh. Chính vì thế phát triển, các doanh nghiệp cũng như các tập đoàn cần cố gắng hết mình phát triển nâng cao năng lực kinh doanh của mình để có thể đứng vững trên trường quốc tế này. Ngành Tài chính - Ngân hàng là mũi nhọn cho mục tiêu chung đó.
ngân hàng habubank
                                                                                          habubank
  Hội nhập trong thời gian vừa qua đã giúp ngành Tài chính - Ngân hàng  có nhiều những phát triển đáng kể, đóng góp lớn vào sự phát triển chung của Việt Nam chúng ta. Hội nhập đã thúc đẩy xuất nhập khẩu tăng đáng kể, các hoạt động này lại kéo theo sự đi lên của dịch vụ thanh toán, dịch vụ bảo lãnh, dịch vụ ngoại hối.. tại các Ngân hàng. Để có thể duy trì và vượt qua các khó khăn một cách dễ dàng, các ngân hàng công thương cần phải chuẩn bị cho mình một tiềm lực về kinh tế, về uy tín cung ứng dịch vụ nhằm cạnh tranh được với các đối thủ trên thế giới.

Không nằm ngoài xu thế chung đó,  ngân hàng Habubank nói chung cũng như Habubank - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt nói riêng đang nổ lực để đạt được những mục tiêu đề ra, tiếp tục phát triển bền vững nâng cao vị thế của mình trên thị trường Tài chính Ngân hàng. Qua hơn 20 năm hình thành và phát triển,  ngân hàng Habubank đã trở thành một ngân hàng với bề dày kinh nghiệm, tiềm lực nhân viên dồi dào và tiềm lực tài chính ngày một vững mạnh. Ngân hàng Habubank luôn sẵn sàng tự hoàn thiện mình và chuẩn bị đầy đủ hành trang nỗ lực đổi mới và  hướng tới không ngừng để vươn lên góp phần phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
ngan hang habubank 
                                                                                Ngân hàng habubank
  Trong thời gian qua, Habubank- Chi nhánh Hoàng Quốc Việt với những nỗ lực cung ứng dịch vụ chất lượng cao đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, đóng góp cho sự phát triển của toàn Ngân hàng Habubank nói riêng và cho nền kinh tế Việt Nam nói chung. Các mảng hoạt động đều có sự phát triển hết sức khả quan và khởi sắc hơn cả là các hoạt động ở các mảng dịch vụ. Tuy nhiên để có thể duy trì được vị thế của mình, ngân hàng Habubank cần phải tăng cường phát triển các dịch vụ trong hoạt động Ngân hàng Doanh nghiệp như dịch vụ Bảo lãnh, tín dụng, Thanh toán quốc tế...

Thứ Sáu, 10 tháng 8, 2012

Habubank sẽ tồn tại và phát triển - TienPhong Bank được tăng trưởng tín dụng tối đa 27%


Mặc dù đã gặp không ít sóng gió, nhưng sau khi sát nhập mọi khó khăn của habubank sẽ được giải quyết.
sáp nhập với ngân hàng khác được cho là tốt hơn. Trước đó, ngay khi công khai các tài liệu về phương án và đề án sáp nhập với SHB, HĐQT của ngân hàng Habubank khẳng định đây là một quyết định được cân nhắc một cách cẩn trọng trên cơ sở đảm bảo tối đa quyền lợi cho các cổ đông, cán bộ nhân viên trong điều kiện hiện nay của ngân hàng. Việc sáp nhập HBB vào SHB là việc chuyển toàn bộ trách nhiệm và nghĩa vụ của HBB với các khách hàng, đối tác, nhân viên cho SHB kể từ ngày nhận sáp nhập. Quá trình này, được sự kiểm soát và hỗ trợ chặt chẽ của NHNN các cấp để đảm bảo quá trình diễn ra thành công, không ảnh hưởng tới quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền, khách hàng và các bên liên quan. 

Song, tại sao lại chọn SHB và năng lực tài chính của nhà băng này đến đâu lại là câu hỏi được nhiều cổ đông của Habubank đặt ra. Có ý kiến cho rằng, SHB phải là một nhà băng có tài chính thực sự khỏe mới có thể gánh vác được ngân hàng Habubank cũng như đảm bảo sức khỏe, hiệu quả của ngân hàng sau sáp nhập. Việc sáp nhập theo đó cũng không thể tiến hành vội vàng, ảnh hưởng đến quyền lợi của các cổ đông. Bên cạnh dấu hỏi về năng lực tài chính của SHB, có ý kiến còn cho rằng, nếu được chọn, tại sao Habubank không chọn những định chế tài chính có năng lực hơn SHB... Thực tế thì ngay trong dự thảo đề án sáp nhập với SHB, HĐQT của ngân hàng Habubank cũng nhận thấy không ít các điểm yếu của đối tác sáp nhập. Phân tích về SHB, Habubank nhìn thấy một nhà băng có quy mô hoạt động chưa lớn, chưa có bề dày hoạt động và cơ cấu quản trị doanh nghiệp cũng chưa bắt kịp với tốc độ phát triển của ngân hàng. Bên cạnh đó, cơ cấu bảng cân đối kế toán của SHB vẫn tập trung nhiều vào hoạt động tín dụng và chi phí hoạt động cao so với tổng nguồn thu của ngân hàng.
Dù có nhiều thắc mắc của cổ đông, ĐHCĐ của Habubank cũng đi đến phần biểu quyết và kết quả cuối cùng cho thấy, có đến 85,21% trên tổng số phiếu biểu quyết đồng ý thông qua phương án sáp nhập ngân hàng Habubank vào SHB kèm theo đề án sáp nhập, hợp đồng sáp nhập và điều lệ ngân hàng sau sáp nhập. Như vậy về mặt thủ tục, thương vụ sáp nhập hai ngân hàng cơ bản hoàn tất nửa chặng đường đầu tiên, về phía Habubank. Phía bên kia - SHB, chặng đường còn lại phụ thuộc vào kết quả tại ĐHCĐ sẽ được tổ chức vào ngày 5.5 tới đây. Có thông tin cho rằng, nửa còn lại dường như sẽ dễ dàng hơn.
Trên cơ sở đánh giá hoạt động 6 tháng đầu năm 2012 của Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TienPhong Bank), Ngân hàng Nhà nước đã có công văn số 4879/NHNN-CSTT ngày 6/8/2012 chấp thuận đề nghị điều chỉnh tốc độ tăng tín dụng của TienPhong Bank.

Theo đó, dư nợ tín dụng (bao gồm cả số dư trái phiếu doanh nghiệp) đến hết ngày 31/12/2012 của TienPhong Bank sẽ được tăng tối đa 27% so với thời điểm cuối năm 2011.

Quý I/2012, tăng trưởng tín dụng của TienPhong Bank tăng chậm do ngân hàng tập trung nỗ lực tái cơ cấu. Tuy nhiên Quý II/2012, dư nợ cho vay của TienPhong Bank đã tăng 6,8% so với quý trước. Sáu tháng cuối năm, TienPhong Bank sẽ đẩy mạnh hoạt động cho vay để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn dễ dàng nhất.

Hiện TienPhong Bank đang triển khai gói tín dụng mang tên “90 ngày vàng dành cho khách hàng doanh nghiệp” với mức lãi suất ưu đãi dao động từ 12,5% - 14%. Tổng giá trị gói tín dụng là 3000 tỷ đồng. Các điều kiện cho vay được mở rộng và quy định rõ ràng.

Từ 15/8/2012 TienPhong Bank sẽ dành thêm 1000 tỷ đồng cấp tín dụng cho khách hàng khu vực đồng bằng sông Cửu Long trong chương trình mang tên “Hỗ trợ tín dụng trọn gói cho cá nhân, hộ gia đình sản xuất lúa”. Khách hàng được tài trợ chi phí lưu động để sản xuất lúa (mua phân bón, thuốc trừ sâu, thuê nhân công,...), chi phí sinh hoạt trong thời gian sản xuất lúa, chi phí mua đất nông nghiệp và đầu tư máy móc, thiết bị. Chi nhánh An Giang và Cần Thơ của TienPhong Bank sẽ là đầu mối giải ngân gói tín dụng này.

TienPhong Bank cũng đẩy mạnh cho vay khách hàng cá nhân, khách hàng vay tín chấp thấu chi được giảm tối đa 2% lãi suất so với mức thông thường.

Thứ Hai, 6 tháng 8, 2012

BIDV lãi 1.200 tỷ đồng trong 2 tháng 5 và 6

Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) công bố báo cáo tài chính quý II/2012, giai đoạn từ 1/5 đến 30/6 của ngân hàng mẹ, theo đó tăng trưởng tín dụng 6 tháng đầu năm của ngân hàng đạt 10,75%.

Bài liên quan : <<  Ngân hàng habubank vượt qua khó khăn  >>
                         <<  Ngân hàng habubank phát triển mạnh  >>
BIDV được thành lập vào ngày 27/4 nhưng ngân hàng lập báo cáo tài chính đầu tiên vào ngày 1/5. Nguyên nhân là do khoảng thời gian từ 27/4 đến 30/4 có 3 ngày nghỉ và 1 ngày làm việc và ngày làm việc này không có ảnh hưởng trọng yếu đến tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

Do đó, để tiện cho hoạt động kinh doanh, BIDV thực hiện chuyển đổi hình thức sở hữu vào ngày 30/4 và chính thức hoạt động vào ngày 1/5 nên lập báo cáo tài chính đầu tiên từ ngày 1/5.
BIDV lai 1200 ty dong 1

Theo đó, từ 1/5 đến 30/6, BIDV đạt 2.667 tỷ đồng thu nhập lãi thuần, chiếm 80% tổng các khoản thu nhập.
Trừ đi 952 tỷ đồng chi phí hoạt động và 912 tỷ đồng chi phí dự phòng rủi ro tín dụng, BIDV đạt 1.586 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế. Ngân hàng đạt lợi nhuận sau thuế 1.196 tỷ đồng.
BIDV lai 1200 ty dong 2Để phục vụ cho mục đích so sánh và thể hiện hoạt động kinh doanh liên tục, BIDV có bổ sung bảng kết quả hoạt động kinh doanh 6 tháng đầu năm 2012. Theo đó, lợi nhuận sau thuế 6 tháng đầu năm đạt 1.581 tỷ đồng, tăng 34% so với cùng kỳ. Như vậy, lợi nhuận riêng tháng 5 và tháng 6 của BIDV chiếm 76% lợi nhuận nửa đầu năm 2011.

Tại thời điểm 30/6, nợ xấu ngân hàng mẹ BIDV là 2,5%. Khoản cho vay khách hàng là 323.117 tỷ đồng. Theo báo cáo bổ sung, tăng trưởng tín dụng 6 tháng đầu năm của ngân hàng là 10,75%.

Thứ Tư, 1 tháng 8, 2012

Lãi biên 2,9% của ngân hàng có thấp?

 
Ngân hàng không thể có lãi 6% do chênh lệch huy động/cho vay như nhiều người nghĩ, nhưng với tỷ lệ 2,9% như tính toán cũng không phải là mức thu nhập lãi thuần thấp trong điều kiện hiện nay.

                         <<  Ngân hàng habubank phát triển mạnh  >>

Ngân hàng là huyết mạch của cả nền kinh tế. Ngân hàng tắc, kinh tế đình trệ. Đó là tình trạng của nền kinh tế hiện nay khi mà vốn của ngân hàng không thể chảy tới các ngành khác. Một trong những khó khăn chính là lãi suất vay vốn vẫn còn rất cao đối với sức chịu đựng của doanh nghiệp.

Cũng có ý kiến cho rằng, theo tính toán thì các ngân hàng không lãi nhiều như mọi người vẫn tưởng là 6%/ đồng vốn huy động (chênh lệch huy động 9% và cho vay 15%), mà chỉ khoảng 2,9%/đồng vốn huy động.

Theo so sánh thì đó là tỷ suất sinh lời thấp nếu so với ngành khác nhưng dường như lời giải thích này hơi thiếu thuyết phục.

Cần làm rõ lợi nhuận mà ngân hàng thu về trên mỗi đồng vốn huy động và lợi nhuận sẽ được chia cho cổ đông của ngân hàng.

Hãy lấy ví dụ, ngân hàng A có vốn điều lệ 10 ngàn tỷ đồng với lượng vốn huy động về là 100.000 tỷ đồng và có LDR (tỷ lệ cho vay/huy động) là 70% tương đương 70.000 tỷ đồng.

Với lợi nhuận tính toán chỉ 2,9% trên dư nợ cho vay ngân hàng A cũng có khoản lợi nhuận từ thu nhập lãi thuần xấp xỉ 2.000 tỷ đồng.

Nếu ngân hàng không có khoản doanh thu và chi phí nào khác, sau khi trích lập dự phòng và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp tạm tính là 1.000 tỷ.

Rõ ràng ngân hàng vẫn có khoản lợi nhuận lên tới 1.000 tỷ đồng sau thuế , tỷ lệ chia cổ tức có thể là 9 -10%.

Kinh tế khó khăn, doanh nghiệp thua lỗ, phá sản thì ngân hàng với chức năng là trung gian tài chính nếu kinh doanh an toàn, hiệu quả vẫn cho khoản lợi nhuận 10%.

So sánh với việc gửi tiết kiệm ngắn hạn 9%/năm thì những ông chủ ngân hàng có thể có khoản lợi nhuận đầu tư không thấp.

Con số lợi nhuận trên chỉ tính với tỷ lệ cho vay/huy động là 70%; nhưng trong hệ thống NHTM cũng có không ít ngân hàng cho vay vượt tỷ lệ trên.

Vì thế nói tỷ suất lợi nhuận/đồng vốn huy động của ngân hàng ở điều kiện kinh tế khó khăn chỉ 2,9% là thấp thì không biết khi kinh tế bình thường lợi nhuận ngân hàng sẽ ở mức nào.

Cách tính ở trên mới chỉ là ước tính nhanh nhưng cũng phần nào phản ánh được thu nhập thực của các ngân hàng.

Vẫn biết ngân hàng là doanh nghiệp, kinh doanh thì phải có lãi, đảm bảo an toàn cho người gửi tiền nhưng nếu các ông chủ ngân hàng chấp nhận giảm bớt lợi nhuận trước mắt, chỉ 1% thôi, thì có lẽ sẽ giúp nhiều doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận vốn.

Thậm chí nếu họ chấp nhận hạ tiếp lợi nhuận để trích lập dự phỏng rủi ro tín dụng đầy đủ thì chắc chắn các doanh nghiệp tốt, doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả còn có thể tiếp cận lãi suất thấp hơn.

Còn các doanh nghiệp cũng phải nhìn lại chính bản thân mình vì hầu hết doanh nghiệp Việt Nam đều kinh doanh với tỷ lệ đòn bẩy rất cao. Từ DNNN có tiềm lực, tài sản nhiều đến doanh nghiệp tư nhân, thậm chí doanh nghiệp bắt đầu khởi nghiệp.

Tại báo cáo của bộ Tài chính, tính đến tháng 9.2011, có đến 30/85 (tức 35%) tập đoàn và tổng công ty có tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu cao hơn 3 lần. Đặc biệt có 7 tập đoàn, tổng công ty có tỷ lệ này trên 10 lần.

Còn tại buổi đối thoại giữa ngân hàng và doanh nghiệp, Thống đốc Nguyễn Văn Bình chia sẻ nhận bức thư của doanh nghiệp trẻ, khởi nghiệp với vài chục triệu đồng đã thông qua nhiều cách để vay 3 tỷ đồng nhưng kinh doanh thua lỗ.

“Hiện anh ấy muốn vay thêm 3 tỷ nữa để kinh doanh, nhưng nếu tôi là giám đốc chi nhánh Ngân hàng cũng không dám cho anh này vay thêm bởi quy mô nhỏ, vốn tự có thấp, kế hoạch kinh doanh không rõ ràng ”- Thống đốc thẳng thắn đánh giá.

Phụ thuộc quá nhiều vào tín dụng ngân hàng, đòn bẩy tài chính cao khi thị trường khó khăn nhiều doanh nghiệp rơi vào tình trạng “chết trên đống tài sản dở dang”.

“Tiên trách kỷ, hậu trách nhân”, các doanh nghiệp muốn có sự hỗ trợ từ phía ngân hàng thì trước hết phải giải quyết bớt những bất cập, rào cản do chính doanh nghiệp tạo ra.

Mối quan hệ giữa ngân hàng và doanh nghiệp là lâu dài, và biết bỏ cái ngắn hạn để được lấy cái lâu dài chắc chắn cả ngân hàng và doanh nghiệp sẽ tăng trưởng bền vững.

Thứ Tư, 25 tháng 7, 2012

"Thế chấp quyền sử dụng đất tại các ngân hàng ở nước ngoài": Phải tuyệt đối đảm bảo chủ quyền quốc gia

Phó thống đốc NHNN Đặng Thanh Bình cho rằng, vấn đề này cần phải xem xét nghiên cứu một cách thận trọng. Nếu có chủ trương "mở" thì những điều kiện ràng buộc phải rất chặt chẽ.
Nhu cầu có thực…


                         <<  Ngân hàng Habubank tự tin xóa nợ  >>
 

Luật Đất đai 2003 không cho phép thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại ngân hàng ở nước ngoài để đảm bảo chủ quyền quốc gia.

Tuy nhiên, cùng với tiến trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của nền kinh tế, nhiều ý kiến cho rằng, cần “mở cửa” đối với vấn đề sử dụng đất làm tài sản thế chấp tại ngân hàng ở nước ngoài. Chính vì vậy, ngày 24/7/2012, NHNN Việt Nam đã tổ chức Hội thảo: "Thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại ngân hàng ở nước ngoài" với sự tham gia của các chuyên gia nghiên cứu trong lĩnh vực đất đai, ngân hàng... Qua đó, đưa ra những kiến nghị, đề xuất để làm sao vừa tháo gỡ khó khăn cho DN nhưng vẫn đảm bảo thuận lợi cho việc quản lý đất đai của Nhà nước.
Xoay quanh vấn đề này, rất nhiều ý kiến cho rằng, nên “mở” nhưng phải ràng buộc các điều kiện cực kỳ chặt chẽ. Bởi theo ông Nguyễn Đình Quang - Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Ngân hàng, hiện nền kinh tế còn thiếu vốn, cần có vốn cho phát triển, vì vậy cần tạo điều kiện cho DN có dự án khả thi, có hiệu quả, có khả năng trả nợ được thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để vay vốn tại ngân hàng ở nước ngoài... Tuy nhiên, phải tuân thủ những điều kiện hết sức cụ thể và nghiêm ngặt chứ không phải dự án nào cũng cho vay. “Việc thống nhất chủ trương về mặt hướng đi cho các DN khi thực hiện sẽ đảm bảo các giao dịch thông suốt, rõ ràng minh bạch”, ông Quang nhấn mạnh.
Đồng tình quan điểm này, bà Trần Thị Hồng Hạnh – Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cũng cho biết, hiện nhu cầu vốn của các DN Việt Nam hoạt động ở nước ngoài khá lớn nhưng tài sản đảm bảo ở nước ngoài rất ít. Do đó, đối tượng này muốn dùng tài sản ở Việt Nam để đảm bảo cho khoản vay ở nước ngoài.
Theo bà Hạnh đây cũng là nhu cầu thực tế của nền kinh tế khi mở cửa, giao lưu thương mại với thế giới. Vấn đề là phải làm sao làm sao để vừa đáp ứng nhu cầu thực tế trên song vẫn đảm bảo chủ quyền đất nước về đất đai. Muốn vậy cần có giải pháp linh hoạt. Ví như người ở Việt Nam có thể thông qua bảo lãnh đối ứng tức là người có đất đai yêu cầu ngân hàng bảo lãnh cho người vay ở nước ngoài. Làm như vậy vừa xử lý đất đai ở trong nước nhưng đồng thời đáp ứng được nhu cầu vốn cho các DN nước ngoài.
…Song cần thận trọng
Theo ông Đào Xuân Tuấn - Phó vụ trưởng Vụ Quản lý ngoại hối, NHNN: “Là nơi xét duyệt đăng ký khoản vay của DN Việt Nam vay nợ ở ngân hàng nước ngoài, chúng tôi nhận thấy, đây là vấn đề vừa cấp bách nhưng cũng vừa nguy hiểm.

Hiện nhiều ngân hàng ở nước ngoài chỉ cho vay nếu DN có tài sản thế chấp là đất đai. Thế nhưng Luật Đất đai lại không cho phép DN thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền tại ngân hàng ở nước ngoài. Thực tế này cũng sẽ hạn chế luồng vốn cho DN Việt Nam làm ăn chân chính, có điều kiện trả nợ. Bởi ngoài đất đai, DN Việt Nam không có tài sản giá trị nào tin cậy hơn để ngân hàng nước ngoài chấp nhận cho vay.

Tuy nhiên, ở góc độ khác chúng ta nhận thấy thực tế là hoạt động này cũng khá rủi ro. Bởi khi DN không hoạt động hiệu quả, việc thế chấp tài sản như vậy sẽ gây khó cho vấn đề quản lý đất đai. Do vậy, nếu "mở" cũng phải hết sức thận trọng. Chỉ nên thí điểm những dự án đặc biệt quan trọng đối với một số lĩnh vực nào rất cụ thể…”.
Cũng với hướng như vậy song có phần “mở” hơn, ông Phạm Quang Tùng - Phó tổng giám đốc BIDV đề xuất, chỉ nên cấm thế chấp với những tài sản đất nhạy cảm. Còn trong trường hợp người vay không thanh toán được cũng có cách xử lý. Đó là, ủy thác qua TCTD trong nước đứng ra xử lý hoặc cho phép tổ chức nước ngoài thực hiện phát mãi tài sản để thu hồi vốn song chỉ giới hạn đối với đối tượng nhận chuyển nhượng tài sản và quyền sử dụng đất là những đối tượng được phép theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Thừa nhận nhu cầu thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền tại ngân hàng ở nước ngoài phát sinh trong thời gian gần đây và nhu cầu thực tế, nhưng Phó thống đốc NHNN Đặng Thanh Bình cho rằng, vấn đề này cần phải xem xét nghiên cứu một cách thận trọng. Nếu có chủ trương "mở" thì những điều kiện ràng buộc phải rất chặt chẽ.
Phó vụ trưởng Vụ chính sách tiền tệ (NHNN) Đỗ Thị Nhung:
Cần nghiên cứu kỹ lưỡng
Trên thực tế, nhu cầu thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền tại ngân hàng ở nước ngoài có phát sinh. Tuy nhiên theo tôi đây không phải vấn đề bức xúc cần giải quyết một cách quyết liệt. Vì pháp luật chưa cho phép thực hiện điều này và trong thực tế việc vay vốn nước ngoài chia ra làm 2 cấu phần: công và tư nhân đều có những hình thức xử lý khác.


Với khu vực công đã được Chính phủ bảo lãnh, còn khu vực tư nhân cũng được ngân hàng bảo lãnh vay vốn. Còn nếu như DN không đủ điều kiện bảo lãnh thì đương nhiên việc vay vốn của DN cả trong nước lẫn nước ngoài đều khó chứ không riêng vướng mắc tài sản. 


Còn dưới góc độ nhà quản lý, vấn đề này khá nhạy cảm liên quan chủ quyền quốc gia. Vì đây là giao dịch có yếu tố nước ngoài nên việc xử lý cần cân nhắc nghiên cứu kỹ cả luật pháp nước ngoài và vấn đề quan hệ yếu tố nước ngoài với Việt Nam. Hơn thế, việc mở cơ chế này có thể sẽ làm tăng nợ quốc gia, cũng như gây khó khăn cho việc quản lý.

 

Thứ Ba, 10 tháng 7, 2012

TPHCM: Tăng trưởng tín dụng 6 tháng đầu năm thực âm 0,04%

Trái với chiều hướng tăng trưởng tín dụng dương của cả nước, mức tăng tín dụng trong 6 tháng đầu năm ở khu vực TPHCM vẫn âm 0,04%. 
 
                         <<  Ngân hàng Habubank tự tin xóa nợ    >>
 
Điều đó cho thấy khả năng hấp thu vốn của doanh nghiệp ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam vẫn rất kém. Thông tin trên được công bố tại cuộc họp giữa lãnh đạo Ủy ban Nhân dân TPHCM với đại diện 16 ngân hàng cuối tuần qua.
Trong khi đó, theo thông cáo báo chí của Ngân hàng Nhà nước hôm 7-7, tín dụng toàn hệ thống đã tăng trưởng ở mức thấp. Tính đến ngày 30-6, tín dụng tăng 0,76% so với cuối năm 2011 (nếu tính cả số dư đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp và ủy thác thì tăng khoảng 1,4%).
Cũng theo thông tin từ cuộc họp, nợ xấu trên địa bàn TPHCM tăng. Lợi nhuận của một số ngân hàng giảm, nhiều chi nhánh ngân hàng báo lỗ. Cả ngân hàng và doanh nghiệp vẫn giữ tâm lý thận trọng với nợ xấu.
Tuy nhiên, điều đáng mừng là vốn tuy chậm nhưng đã chảy vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Dư nợ cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh ở TPHCM sau 6 tháng đầu năm đã chiếm tới 85% tổng dư nợ cho vay. Đáng chú ý, doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ lệ nhận vốn cao nhất. Tổng số doanh nghiệp được vay vốn theo lãi suất ưu đãi bằng tiền đồng đã đạt hơn 4.200 doanh nghiệp. Một số ngân hàng thương mại trên một số quận, huyện đã ký kết trực tiếp các bản cam kết hợp đồng tín dụng ưu đãi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Theo lãnh đạo một ngân hàng thương mại tại TPHCM, khác với các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ là đối tượng gặp nhiều khó khăn nhất. Họ không đủ tài sản đảm bảo hoặc nếu có thì tài sản có tính thanh khoản thấp, giá trị thị trường thấp và khó chuyển nhượng, báo cáo tài chính không được kiểm toán, số liệu tài chính không đủ minh bạch, lành mạnh, chứng từ chứng minh mục đích sử dụng vốn vay không đầy đủ. Phần lớn các doanh nghiệp nhóm này không được nhận bảo lãnh từ quỹ bảo lãnh tín dụng.
Cũng theo thông cáo báo chí trên, cơ quan quản lý ngành ngân hàng cho rằng khả năng mở rộng tín dụng trong thời gian tới vẫn rất khó khăn. Hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng về cơ bản an toàn nhưng cân đối vốn vẫn chưa được cải thiện, nợ xấu tăng, vẫn còn một số tổ chức vi phạm tỷ lệ an toàn.
“Cân đối vốn theo kỳ hạn chưa vững chắc do tỷ trọng tín dụng trung và dài hạn trong tổng tín dụng vẫn duy trì ở mức 42% như cuối năm 2011, trong khi phần lớn nguồn vốn huy động là ngắn hạn. Đến cuối tháng 5-2012, theo báo cáo của các tổ chức tín dụng, tổng nợ xấu của toàn hệ thống chiếm 4,47% tổng dư nợ tín dụng cho nền kinh tế (cuối năm 2011 là 3,07%). Lãi suất cho vay bằng tiền đồng mặc dù giảm nhưng vẫn còn ở mức cao, đặc biệt tỷ trọng dư nợ có lãi suất cao vẫn còn lớn”, theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước.
Ngân hàng Nhà nước đề nghị các ngân hàng theo dõi sát tình hình hoạt động của các doanh nghiệp để đề xuất kịp thời các giải pháp về tiền tệ, tín dụng; tích cực và chủ động hơn nữa trong việc phối hợp với khách hàng vay để rà soát, đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng, từ đó thực hiện các giải pháp cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi vốn vay, cho vay mới trả nợ cũ không nhằm che giấu nợ xấu.
Cơ quan này cũng yêu cầu các ngân hàng thương mại chủ động làm việc ngay với các bộ, ngành, các hiệp hội ngành hàng để phối hợp tìm các giải pháp xử lý hàng tồn kho, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, đẩy mạnh sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.