Hiển thị các bài đăng có nhãn habubak. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn habubak. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 31 tháng 7, 2012

PG Bank: Lợi nhuận quý 2 giảm 30% so với quý 1, chưa tăng vốn lên 3.000 tỷ đồng

Lợi nhuận sau thế Q2 đạt 96 tỷ đồng, lũy kế 6 tháng đầu năm đạt 233 tỷ đồng.


Bài liên quan : <<  Ngân hàng habubank vượt qua khó khăn  >>
                         <<  Ngân hàng habubank phát triển mạnh  >>
 

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xăng dầu Petrolimex (PG Bank) vừa công bố kết quả kinh doanh quý 2/2012.
Theo đó, lợi nhuận sau thuế của ngân hàng quý 2 đạt 96,12 tỷ đồng. Lũy kế 6 tháng đầu năm đạt 233,49 tỷ đồng. 
Như vậy, LNST quý 2 đã giảm 30% so với quý 1, ở mức 137,37 tỷ đồng.
Tổng lượng tiền mặt, vàng bạc, đá quý tại cuối quý 2 đạt 245,95 tỷ, tăng 8,2 tỷ so với đầu năm. Tổng tiền gửi thanh toán tại NHNN là 562,3 tỷ, gấp hơn 2 lần thời điểm cuối năm 2011, trong khi lượng tiền và tương đương tiền cho vay và gửi tại các tổ chức tín dụng khác giảm 34% xuống 2.861 tỷ.
Tăng trưởng tín dụng 6 tháng đầu năm đạt 1,29%, với dư nợ cho vay khách hàng đạt 12.082 tỷ đồng.
Tại thời điểm 30/6, nợ nghi ngờ tăng gấp hơn 2 lần so với tại thời điểm 31/3, từ 56,86 tỷ lên 133,9 tỷ. Nợ có khả năng mất vốn giảm 35,9% xuống 93,1 tỷ. Nợ cần chú ý giảm 171 tỷ đồng xuống 1.339 tỷ.
Dự phòng rủi ro trích lập trong quý 2 là 7,9 tỷ, tăng 75,5% so với 4,5 tỷ đồng trích lập trong quý 1.
Tổng tài sản hiện có của ngân hàng là 19.413 tỷ.

Chủ Nhật, 29 tháng 7, 2012

Ngân hàng đang “xơi” 6% chênh lệch lãi suất?

Sau khi Thống đốc Ngân hàng Nhà nước định hướng lãi suất tiền vay ngắn hạn giảm về 15%/năm đã xuất hiện nhiều ý kiến cho rằng, cần phải giảm lãi tiền vay ngắn hạn xuống 8%/năm, trung dài hạn 12%/năm. Trong bối cảnh hiện nay, mong muốn này có trở thành hiện thực?.
 
Bài liên quan : <<  Ngân hàng Habubank vượt qua khó khăn  >>
                         <<  Ngân hàng Habubank phát triển mạnh  >>
 
 
Định hướng lãi vay 15%/năm, trong khi lãi tiền gửi chỉ 9%/năm của Ngân hàng Nhà nước đang dấy lên khúc mắc: ngân hàng đang “xơi” 6%/năm, trong khi doanh nghiệp phá sản hàng loạt. Thực hư con số này như thế nào?
 
Theo phân tích của một chuyên gia ngân hàng, giả định trong số 100 đồng mà tổ chức tín dụng huy động kỳ hạn dưới 12 tháng, lãi suất 9%/năm thì theo Quyết định số 581/2003/QĐ-NHNN ngày 9/6/2003, mức trích lập dự phòng rủi ro VND kỳ hạn này phải là 3%; dự trữ thanh khoản 10%, còn 87%, hay 87 đồng. 
 
Như thế, lãi suất thực của một đồng vốn huy động để cho vay ra chưa tính các chi phí khác là: 9% : 87% = 10,34% (1) và một khoản khác mà tổ chức tín dụng phải chi là dự phòng chung 0,75% trên mỗi đồng vốn huy động (2). Lấy (1) + (2), sẽ bằng 11,09%. 
 
Ngoài ra, tổ chức tín dụng còn phải chi một loạt chi phí như: khấu hao tài sản đầu tư, thiết kế sản phẩm tiền gửi, thuê phòng giao dịch, đường truyền mạng, thông tin liên lạc, quảng bá sản phẩm... tiền lương, đều phải tính vào giá vốn và được phân bổ vào trong đó dù co kéo đến mấy thì khoản này cũng tương đương 1% đối với mỗi đồng vốn huy động được. 
 
Tóm lại, chi phí thực tế trên mỗi đồng vốn mà tổ chức tín dụng huy động được lên tới 12,09% và so với lãi vay bị Ngân hàng Nhà nước “định hướng” là 15%/năm thì phần chênh lệch thực tế giữa huy động và cho vay mà ngân hàng thương mại giữ lại, tất nhiên chưa tính thuế thu nhập doanh nghiệp là 2,91% chứ không phải 6% như nhiều người vẫn đề cập. 
 
So với các loại hình đầu tư khác, tỷ suất sinh lời trên một đồng vốn/năm chưa tính thuế thu nhập doanh nghiệp mà chỉ ở mức 2,91% là quá thấp.
 
Thứ hai, thêm một yếu tố không thể không tính đến là các khoản tiền gửi trước đây có kỳ hạn 3 - 4 tháng đã thỏa thuận lãi suất phải trả khách hàng là 12% - 13% - 14%/năm thì kể cả khi Ngân hàng Nhà nước áp trần lãi suất tiền gửi 9% thì ngân hàng thương mại cũng không thể điều chỉnh ngay xuống mức này. 
 
Bởi lẽ, không một khách hàng nào chấp thuận yêu cầu đó, nhất là trong điều kiện khát vốn như thời gian qua, những khách hàng nắm giữ tiền tỷ trở lên thường xuyên so đo, mặc cả từng đồng với ngân hàng. Do vậy, ngân hàng thương mại vẫn phải trả lãi khoản tiền gửi đó như đã cam kết trong hợp đồng, sau đó mới có thể điều chỉnh giảm lãi theo yêu cầu hiện nay của Ngân hàng Nhà nước. 
 
Chưa kể, trong hầu hết các hợp đồng tiền gửi hiện nay đều có kỳ hạn từ 1 - 3 tháng với lãi suất đầu vào bình quân trên 11% - 13%/năm, thậm chí có nhiều món lên tới 15%/năm, nhất là những ngân hàng yếu thanh khoản. Vậy nên, so với mức trần lãi suất tiền vay ngắn hạn 15%/năm, không gian để ngân hàng thương mại cân đối lời lãi là chật hẹp. 
 
Thứ ba, ngoài các thành tố liên quan đến chi phí vốn như nói trên, trong quá trình hoạt động, mỗi một khoản tín dụng bắt đầu từ nhóm 2 đến 3,4,5 đều phải trích lập theo quy định phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro của Ngân hàng Nhà nước. 
 
Như vậy, đủ thấy những ngày này, ngân hàng thương mại đang phải co kéo từng đồng để vừa duy trì hoạt động, vừa đạt chỉ tiêu lợi nhuận mà Hội đồng Quản trị đã ra nghị quyết cũng như giảm lãi suất tiền vay để chia sẻ khó khăn cùng doanh nghiệp, nhất là trong bối cảnh nợ xấu toàn hệ thống đang ở mức rất cao. 
 
Cơ hội của sàng lọc
 
Bà Nguyễn Thị Thanh Hương, nguyên Phó vụ trưởng Vụ Kế toán Ngân hàng Nhà nước phân tích, nếu đặt câu chuyện giảm lãi suất trong các mối liên hệ với thị trường vốn sẽ thấy một vấn đề hết sức đáng lo ngại. Thị trường vốn Việt Nam hiện rất chông chênh do toàn bộ gánh nặng đều đổ dồn lên hệ thống ngân hàng. 
 
Trước hết, do ngân hàng gánh vác toàn bộ chức năng thị trường vốn nên phần lớn các doanh nghiệp có hệ số tự tài trợ vốn quá thấp và không chịu nổi mỗi khi lạm phát bùng phát, Ngân hàng Nhà nước phải thắt chặt tiền tệ như từng diễn ra khá nhiều lần kể từ 2008 đến nay.
 
Điều này trái ngược hoàn toàn so với hệ thống ngân hàng các nước phát triển. Ở đó, không bao giờ ngân hàng cho vay doanh nghiệp khi mà hệ số tự tài trợ quá thấp như ở Việt Nam. Các quốc gia này xếp hạng doanh nghiệp rất cụ thể, rõ ràng và mức tài trợ cũng tương thích với sự xếp hạng đó theo nguyên lý: rủi ro càng cao thì lãi suất phải cao. 
 
Hai là, nhiều năm gần đây, việc cấp phép thành lập doanh nghiệp quá dễ dãi, thiếu sự cân nhắc đã tạo ra sự tăng trưởng số lượng doanh nghiệp quá lớn trong một thời gian không dài, trong khi số doanh nghiệp có thực lực tài chính tốt không nhiều. Rất nhiều doanh nghiệp vốn tự có chỉ vài chục triệu nhưng vẫn cứ thành lập và khai vống vốn điều lệ lên, sau đó, tìm mọi cách chạy dự án và vay mượn ngân hàng hoặc bên ngoài. 
 
Một bằng chứng là trên cả nước có bao nhiêu doanh nghiệp được xếp hạng tín nhiệm cao? Thực tế cho thấy, nền kinh tế Việt Nam vẫn bị S&P xếp hạng ở mức đầu cơ, vào nhanh và rút thật nhanh thay vì cần có nhiều dự án đầu tư dài hạn hơn nữa. 
 
Các doanh nghiệp Việt Nam ra sàn xếp hạng quốc tế vẫn bị xếp hạng thấp hơn hoặc ngang bằng xếp hạng quốc gia. Ngay cả những doanh nghiệp lớn của Việt Nam như Vincom hay Vietinbank khi phát hành trái phiếu quốc tế đều phải chịu lãi suất rất cao. 
 
Cụ thể, theo bản tin nghiên cứu thị trường của BIDV thì từ đầu năm đến nay, lãi suất trái phiếu quốc tế của Vietinbank lên tới 8,25%/năm trong khi lãi suất USD trong nước khoảng 5%/năm; hay, ba đợt phát hành trái phiếu quốc tế của Vincom (gồm185 triệu USD, 115 triệu USD và trái phiếu chuyển đổi kỳ hạn 5 năm) lãi suất lên tới 11%/năm.
 
Nhưng, trước tình trạng doanh nghiệp phá sản hàng loạt hiện nay thì thái độ ứng xử của nhà nước phải như thế nào? Bà Hương cho rằng, với tình hình kinh tế thế giới như hiện nay, kinh tế Việt Nam vẫn chưa bộc lộ hết mức đáy. Và đây là điều kiện tốt nhất để tái cơ cấu và sàng lọc doanh nghiệp. 
 
Theo đó, các bộ ngành quản lý cần phân loại doanh nghiệp theo 3 cấp độ: ngoài những doanh nghiệp tốt mà các ngân hàng đang tìm mọi cách giữ chân họ thì với những doanh nghiệp có triển vọng vượt qua khó khăn, nếu có phương án/dự án kinh doanh khả thi thì ngân hàng nên bơm vốn. Ngược lại, những doanh nghiệp đã phá sản và nguy cơ phá sản cận kề thì phải giải quyết cho phá sản.
 

Thứ Ba, 10 tháng 7, 2012

TPHCM: Tăng trưởng tín dụng 6 tháng đầu năm thực âm 0,04%

Trái với chiều hướng tăng trưởng tín dụng dương của cả nước, mức tăng tín dụng trong 6 tháng đầu năm ở khu vực TPHCM vẫn âm 0,04%. 
 
                         <<  Ngân hàng Habubank tự tin xóa nợ    >>
 
Điều đó cho thấy khả năng hấp thu vốn của doanh nghiệp ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam vẫn rất kém. Thông tin trên được công bố tại cuộc họp giữa lãnh đạo Ủy ban Nhân dân TPHCM với đại diện 16 ngân hàng cuối tuần qua.
Trong khi đó, theo thông cáo báo chí của Ngân hàng Nhà nước hôm 7-7, tín dụng toàn hệ thống đã tăng trưởng ở mức thấp. Tính đến ngày 30-6, tín dụng tăng 0,76% so với cuối năm 2011 (nếu tính cả số dư đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp và ủy thác thì tăng khoảng 1,4%).
Cũng theo thông tin từ cuộc họp, nợ xấu trên địa bàn TPHCM tăng. Lợi nhuận của một số ngân hàng giảm, nhiều chi nhánh ngân hàng báo lỗ. Cả ngân hàng và doanh nghiệp vẫn giữ tâm lý thận trọng với nợ xấu.
Tuy nhiên, điều đáng mừng là vốn tuy chậm nhưng đã chảy vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Dư nợ cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh ở TPHCM sau 6 tháng đầu năm đã chiếm tới 85% tổng dư nợ cho vay. Đáng chú ý, doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ lệ nhận vốn cao nhất. Tổng số doanh nghiệp được vay vốn theo lãi suất ưu đãi bằng tiền đồng đã đạt hơn 4.200 doanh nghiệp. Một số ngân hàng thương mại trên một số quận, huyện đã ký kết trực tiếp các bản cam kết hợp đồng tín dụng ưu đãi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Theo lãnh đạo một ngân hàng thương mại tại TPHCM, khác với các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ là đối tượng gặp nhiều khó khăn nhất. Họ không đủ tài sản đảm bảo hoặc nếu có thì tài sản có tính thanh khoản thấp, giá trị thị trường thấp và khó chuyển nhượng, báo cáo tài chính không được kiểm toán, số liệu tài chính không đủ minh bạch, lành mạnh, chứng từ chứng minh mục đích sử dụng vốn vay không đầy đủ. Phần lớn các doanh nghiệp nhóm này không được nhận bảo lãnh từ quỹ bảo lãnh tín dụng.
Cũng theo thông cáo báo chí trên, cơ quan quản lý ngành ngân hàng cho rằng khả năng mở rộng tín dụng trong thời gian tới vẫn rất khó khăn. Hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng về cơ bản an toàn nhưng cân đối vốn vẫn chưa được cải thiện, nợ xấu tăng, vẫn còn một số tổ chức vi phạm tỷ lệ an toàn.
“Cân đối vốn theo kỳ hạn chưa vững chắc do tỷ trọng tín dụng trung và dài hạn trong tổng tín dụng vẫn duy trì ở mức 42% như cuối năm 2011, trong khi phần lớn nguồn vốn huy động là ngắn hạn. Đến cuối tháng 5-2012, theo báo cáo của các tổ chức tín dụng, tổng nợ xấu của toàn hệ thống chiếm 4,47% tổng dư nợ tín dụng cho nền kinh tế (cuối năm 2011 là 3,07%). Lãi suất cho vay bằng tiền đồng mặc dù giảm nhưng vẫn còn ở mức cao, đặc biệt tỷ trọng dư nợ có lãi suất cao vẫn còn lớn”, theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước.
Ngân hàng Nhà nước đề nghị các ngân hàng theo dõi sát tình hình hoạt động của các doanh nghiệp để đề xuất kịp thời các giải pháp về tiền tệ, tín dụng; tích cực và chủ động hơn nữa trong việc phối hợp với khách hàng vay để rà soát, đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng, từ đó thực hiện các giải pháp cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi vốn vay, cho vay mới trả nợ cũ không nhằm che giấu nợ xấu.
Cơ quan này cũng yêu cầu các ngân hàng thương mại chủ động làm việc ngay với các bộ, ngành, các hiệp hội ngành hàng để phối hợp tìm các giải pháp xử lý hàng tồn kho, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, đẩy mạnh sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.